thành tựu của thiên văn học
Chiến lược kinh doanh của Thiên Long là chinh phục một mục tiêu lớn hơn: trở thành công ty văn phòng phẩm số 1 tại Đông Nam Á và hàng đầu Châu Á. Bộ sản phẩm dụng cụ học tập Điểm 10 của Thiên Long rất đa dạng, bao gồm: bảng, phấn, thước kẻ, bút chì, gôm tẩy
[28/12/2018 10:19:32] Năm 2018, ngành Y tế đạt nhiều thành tựu trong công tác khám chữa bệnh, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân, điển hình là: Sản xuất thành công vaccine cúm mùa "3 trong 1", vaccine sởi, vaccine phối hợp sởi - rubella đạt tiêu chuẩn GMP của Tổ chức Y tế thế giới (WHO); Việt Nam có ngân hàng mô
Quản lý bằng văn hóa doanh nghiệp: Văn hóa doanh nghiệp công cụ triển khai chiến lược; Sức hút của thị trường BĐS Bình Thuận nửa cuối năm 2022; Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì hội nghị về ổn định kinh tế vĩ mô; Moody's nâng đánh giá xếp hạng của SeABank lên mức Ba3
2. Văn học, sử học. Câu hỏi trang 31 SGK Lịch sử và Địa lí 7 CTST - Hãy kể tên ba tác giả tiêu biểu của thơ Đường và "tứ đại danh tác" của văn học Trung Quốc. - Hãy nêu các thành tựu tiêu biểu của sử học Trung Quốc thời phong kiến. Trả lời:
Dần dần, họ biết đến sự chuyển động của Mặt Trời, Mặt Trăng. Đó là những tri thức đầu tiên về thiên văn. Từ tri thức đó, người phương Đông sáng tạo ra lịch. Vì vậy, lịch của họ là nông lịch, một năm có 365 ngày được chia thành 12 tháng. Đây cũng là cơ sở để người ta tính chu kì thời gian và mùa. Thời gian được tính bằng năm, tháng, tuần, ngày.
Site De Rencontre Payant En Belgique. *Những thành tựu khoa học tự nhiên của Ai Cập cổ đạiCơ sở hình thành Bầu trời Ai Cập quanh năm trời quang mây tạnh do vậy dễ quan sát. Mực nước lên xuống của sông Nile, có hai mùa nước dâng hạ. Nhu cầu về nông nghiệp, xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc ruộng đất, tính toán thuế khoá. Nhu cầu về tôn giáo, những người phục vụ cho tôn giáo thường quan sát bầu trời để đưa ra lễ, luật cúng học Toán học Ai Cập ra đời từ rất sớm, bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và thực tế cuộc sống của người Ai Cập, phát triển khá mạnh mẽ trong ba lĩnh vực số học, đại số và hình học. Do nhu cầu thực tiễn, nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, tính toán vật liệu xây dựng các công trình kiến trúc, đo đạc,… là những nguyên nhân thúc đẩy toán học ra đời. Thiên niên kỷ III trước Công nguyên xuất hiện từng bước quan niệm trừu tượng về các con niên kỷ II trước Công nguyên phát triển thành công hệ đếm, nhưng vẫn chưa sáng tạo ra số 0, cho nên khi đếm đến 10, họ đã lấy một đoạn dây thừng để ghi nhớ, đến 1000 thì vẽ cái cây Hệ số thập phân cơ số 10, chưa có số 0, biết làm các phép cộng và trừ, còn nhân và chia thì thựchiện bằng cách cộng và trừ liên số giải phương trình bậc nhất, tìm ra cấp số cộng và cấp số nhânHình học Tính diện tích hình vuông, chữ nhật, hình thang, tam giác, tứ giác, diện tích hình cầu,... Tính được số π = 3,16 và bước đầu biết đến tính chất đồng dạng Biết tính thể tích của hình lăng trụ, lập phương…Số học Thành tựu đầu tiên là phép đếm theo cơ số 10, các chữ số cũng được dùng chữ tượnghình để biểu thị và chưa tìm ra con số 0. Biết tính cộng trừ, nhưng phép nhân và chia được hiểulà công trừ liên tiếp Biết căn cứ khả năng nhân đôi của một số . Căn cứ khả năng lấy 2/3 của mộtsố. Thiên văn học Để nắm vững được thời tiết và khai thác nguồn thuỷ lợi của sông Nile phục vụ cho canh tác nôngnghiệp, ở Ai Cập đã sớm ra đời Thiên văn học và lịch pháp. Với những dụng cụ hết sức thô sơ như sợi dây dọi, mảnh ván có khe hở, ngồi trên nóc các đền miếu để quan sát bầu trời cả ngày lẫn đêm, theo dõi sự lên xuống của mực nước sông Nile . Thông qua đó họ cũng xác định được bản đồ của 12 cung hoàng đạo có từ thời Vương triều XIV,vẽ được chòm sao Bắc cực và biết đến hành tinh trong Thái Dương hệ. Đặc biệt để có thể xác định thời gian ban ngày, người Ai Cập đã sáng tạo được cái để đo thời gian ban ngày gọi là Nhật Khuê, giúp người Ai Cập biết được thời gian chính xác biết được các hành tinh khác như Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Sớm phát hiện ra các chòm sao, soạn ra bản đồ các thiên thể, nó được vẽ lên trần của các đền đài cổ. Việc tính toán vị trí các ngôi sao trên trời và việc phát minh ra đồng hồ mặt trời, đồng hồ nước là những thành tựu quan trọng ở thời Tân vương quốc. Tuy nhiên, nó cũng có hạn chế khi trong thời gian ban đêm và trờimưa không có nắng vì vậy vào ban đêm họ sử dụng dụng cụ để đo thời gian gọi là đồng hồ
Sơ lược về Thiên Văn HọcCó thể nói thiên văn là ngành khoa học tự nhiên đầu tiên của nhân loại, khi con người đã qua thời kỳ đồ đá và tự biết trồng trọt, chăn nuôi để phục vụ đời sống thì khát khao tìm hiểu và bản tính tò mò đã thúc đẩy nhân loại ngắm nhìn bầu trời và cố gắng tìm ra những điều hay ho ẩn chứa nơi tận cùng của hiểu biết của nhân loại về thế giới tự nhiên còn hạn chế thì các thượng đế luôn được cho là nguyên nhân của tất tần tật mọi thứ trên đời, bao gồm cả những gì con người quan sát được trên bầu trời huyền bí kia. Lập luận về thượng đế chi phối bầu trời càng được củng cố khi chúng ta không thế với tới được khoảng không bao la phía trên mình mà chỉ có thể cảm nhận bằng thị giác. Thế nên mục đích ban đầu của việc quan sát bầu trời là giao tiếp với thần linh và đưa ra những lời dự đoán mang tầm vĩ mô cho tương lai tinh là sản phẩm của việc quan sát thiên văn để cố gắng kết nối với thần linh, một thời chiêm tinh được xem là một bộ môn khoa học cho đến khi thống kê được áp dụng để xử lý những dữ liệu quan sát được từ bầu trời thì người ra nhận ra chiêm tinh không còn phù hợp với sự phát triển nhân loại nữa. Nguồn ảnh VoxKhi các nhà quan sát cảm thấy lý thuyết về thần linh không còn phù hợp nữa và khoa học thống kê được áp dụng vào việc quan sát thì ngành Thiên Văn Học mới bắt đầu được khai sinh. Những thành tựu ban đầu của Thiên Văn Học là việc tính toán được quỹ đạo của các thiên thể và dự đoán được thời gian, địa điểm xảy ra các hiện tượng thiên trí tuệ của nhân loại được nâng cao và trình độ kỹ thuật nhảy vọt thì Thiên Văn Học cũng bắt đầu trở mình với các ý tưởng và thành tựu đột phá. Và giờ đây ta gọi nó là “Thiên Văn Học hiện đại”.Thành tựu hữu hình của Thiên Văn HọcNhững thành tựu đầu tiên của Thiên Văn Học là sự hiểu biết của nhân loại về quỹ đạo các thiên thể, chu kỳ của các hiện tượng thiên văn hay là vị trí tương đối của các ngôi sao trên bầu trời về sau phát triển thành bản đồ sao – đây là một di sản vô giá của Thiên Văn Học cổ điển.Đối với Thiên Văn Học hiện đại, các quan sát thiên văn đã giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các thế giới chúng ta chưa từng được đặt chân tới. Cũng chính Thiên Văn Học đã mở đường cho con người chinh phục những chân trời mới, đưa con người đi đến những nơi không tưởng. Nói đến những thứ này nghe có vẻ khá xa vời và sẽ có một số người cho rằng việc đó không thực sự cần thiết vì nó không giúp chúng ta cải thiện được những vấn đề tồn đọng trên hành tinh chúng ta đang sống. Nhưng có bấy nhiêu người biết rằng chính nhờ những thành tựu của Thiên Văn Học làm nền tảng mà chúng ta có thể có thể xây dựng được một thế giới phẳng như ngày nay. Mấu chốt ở đây chính là hệ thống vệ tinh giúp chúng ta có thể định vị và kết nối thông tin xuyên lục địa trong chưa đầy một thống vệ tinh giúp con người kết nối chính là thành tựu rõ nhất của Thiên Văn Học nhưng không được nhiều người để ý đến. Nguồn ảnh NASANhưng...Các thành tựu vô hình của Thiên Văn Học mới là thứ định vị Thiên Văn trong nền tri thức nhân loại. Thuở sơ khai nhân loại nghĩ rằng nơi mình sống là cái rốn của vũ trụ và Trái Đất có được nền văn minh là do sự ưu cái của các thượng đế. Nhưng chính nhờ những thành tựu trong Thiên Văn Học đã giúp chúng ta xác định lại vị trí của mình trong vũ trụ này. Đơn giản, chúng ta chỉ là một hành tinh nhỏ bé trong một Hệ Mặt Trời vĩ cũng đến khi sự quan sát vũ trụ được trợ sức bởi công nghệ thì chúng ta mới biết được Vũ Trụ này vô tận như thế nào và Hệ Mặt Trời được xem là vĩ đại trong vài thế kỷ trước cũng chỉ là một hạt cát của một sa mạc rộng lớn mang tên Ngân Hà và cái sa mạc rộng lớn ấy cũng chỉ như một phân tử nước trong đại dương Vũ Trụ. Điều này đã cho chúng ta biết nhân loại nhỏ bé đến chừng nào và sự tồn tại của nền văn minh trên Trái Đất cũng không phụ thuộc vào sự ưu ái của thế lực siêu nhiên nào vũ trụ là bao la thế đấy, nhưng chúng ta vẫn chưa tìm thấy được bất kỳ nền văn minh nào mà chúng ta có thể liên lạc. Và Trái Đất chính là nơi duy nhất đến lúc này chúng ta biết rằng có thể tồn tại một nền văn minh. Bức ảnh dưới đây là chân dung của Trái Đất ở khoảng cách 6,4 tỷ km vào năm 1990 bởi tàu Voyager 1 là minh họa chân thực nhất về sự ưu ái mà tạo hóa chứ không phải thượng đế đã dành cho Trái Đất. Thiên Văn Học đã giúp chúng ta nhận ra sự ưu ái này và nhiệm vụ của chúng ta giờ đây là bảo vệ nó, hãy dành những thời gian ngắn ngủi của một đời người cũng như thời gian tồn tại của nhân loại để mang lại những điều tốt đẹp nhất dành cho nhau, để xứng đáng với những gì chúng ta đã nhận được từ tạo hóa thay vì tranh giành từng tất đất, phá hủy sự sống thiên liêng và mỏng manh đang tồn tại trên Trái 1990 Carl Sagan đã đề nghị NASA xoay tàu Voyager 1 để chụp lại hình ảnh Trái Đất, hình ảnh này được đặt tên là "Pale Blue Dot" - tức đốm xanh mờ. Đốm xanh ở gần trung tâm bức ảnh chính là Trái Đất của chúng ta. Nguồn ảnh NASATôi xin mượn lại câu nói huyền thoại của Carl Sagan về bức ảnh Pale Blue Dot để diễn tả một phần nào những giá trị vô hình mà Thiên Văn Học đã mang lại cho chúng điểm xa xôi này, Trái Đất dường như chẳng có gì đặc biệt để phải quan tâm. Nhưng với chúng ta, nó thực sự khác biệt. Tại đó có tất cả những người bạn yêu thương, tất cả những người bạn biết, tất cả những người bạn từng nghe qua, tất cả những người đã từng tồn tại và đã sống hết mình cho cuộc đời của Đất chỉ là một võ đài nhỏ trong một đấu trường vũ trụ khổng nghĩ về những dòng máu đã đổ xuống do những đại tướng và những hoàng đế trong sự vinh quang và chiến thắng để họ có thể trở thành một người chủ nhất thời của một phần nhỏ trong đốm nhỏ tôi, đó là lời nhắc cho nhiệm vụ của chúng ta rằng phải sống tử tế hơn với mọi người và bảo tồn, trân trọng Đốm xanh mờ này, ngôi nhà duy nhất của chúng ta!
Các thành tựu thiên văn học từ giữa thế kỷ 18 đến cuối thế kỷ 191. Messier thành lập danh mục 103 tinh vân 1781 Charles Messier 26/06/1730 – 12/04/1817sinh ra ở miền Badonviller, vùng Lorraine nước Pháp. Ngay từ thời thiếuniên, niềm đam mê với thiên văn học của Messier đã đươc khơi dậy qua sự xuất hiện của sao chổi 6 đuôi năm 1744và hiện tượng nhật thực ngày 25/07/1748. Năm 1751, ông được nhận vào giúp việc cho nhà thiên văn hải quânPháp Joseph Nicolas Delisle. Quan sát thiên văn đầu tiên với tư cách chuyên nghiệp của Messier là sự kiện SaoThủy đi ngang qua Mặt Trời ngày 06/05/ 1774, Messier xuất bản danh mục đầu tiên bao gồm 45 "deep sky object" các thiên hà, tinh vân hoặcđám sao. Messier tiếp tục hoàn thiện và năm 1781, phiên bản cuối cùng của danh mục này ra đời với 103thiên thể. Trên thực tế, rất nhiều thiên thể trong danh mục của Messier là do người cộng sự của ông PierreMechain tìm ra. Trong thời gian từ năm 1921 đến năm 1966, một số nhà thiên văn học và sử gia đã tìm ra cácbằng chứng cho thấy rằng có thêm 7 thiên thể khác đã được Messier, hoặc là các bạn của ông, hoặc làPierre Mechain phát hiện ngay trước lần xuất bản cuối cùng. Các thiên thể đó được đánh số từ M104 đếnM110. Danh mục của Messier vẫn được sử dụng rộng rãi trong thiên văn học hiện đạiMặc dù danh mục Messier không trình bày các danh mục một cách khoa học như trong danh mục NGC, các thiênthể được sắp xếp theo vị trí trên bầu trời, tuy nhiên các thiên thể trong danh mục đã bao gồm đủ các loại tinh vân,thiên hà, đám sao mở, đám sao hình cầu, ... Do được xác định bởi một kính thiên văn cỡ nhỏ 102 mm nên cácthiên thể này đều rất gần Trái Đất và thường được chọn là là đối tượng trong các quan sát thiên văn chuyên nghiệpcũng như nghiệp dưTên ông được dùng để đặt cho một crater Các hố lõm tạo bởi các vụ va chạm của thiên thạch lên trên bề mặt thiênthể, của bụi vũ trụ lên vỏ các phi thuyền vũ trụ. trên Mặt Trăng, một tiểu hành tinh asteroid 7359 MessierMột số thiên thể Messier là các thiên hàM33M81M101M104Một số khác là các tinh vânM1 Tinh vân Con CuaM27M57tinh vân chiếc nhẫnM782. Sir Frederick William Herschel phát hiện ra Sao Thiên Vương 1781 vàKhám phá ra tia hồng ngoại 1800Sir Frederick William Herschel, 15 tháng 11, 1738 – 25 tháng 8, 1822 là nhà thiên văn học người Anh gốc Đức,chuyên gia về kỹ thuật, và nhà soạn nhạc. Sinh ở Hanover Đức, Wilhelm theo cha gia nhập vào quân đội củaHannover, nhưng sau đó nhập cư vào Anh ở tuổi 19. Vào tháng 5 năm 1773, ông mua được cuốnsách Astronomy của Ferguson. Nhờ cuốn sách này ông cảm thấy hứng thú với khoa học và đặc biệt là thiên văn. Từnăm 1774, ông đã có đầy đủ kỹ năng để chế tạo các loại kính thiên văn với các thấu kích xạ tuyệt hảo hơn bất kì cáinào được sản xuất trước đó. Cũng kể từ đây ông bắt đầu quan sát các thiên thể trên bầu 13 tháng 3 năm 1781, trên kính viễn vọng nhỏ của mình phát hiện một thiên thế lạ chuyểnđộng ngược chiều với các vật thể khác, ban đầu ông nghĩ nó là sao chổi, nhưng sau khi tính toán và xem xétkĩ ông mới xác định đó là một hành tinh mới - Thiên Vương tinh. Kể từ đây hành tinh ngoài cùng hệ MặtTrời không còn là Hỏa Tinh nữa mà là Thiên Vương tinh. Nhờ đó ông được bầu là thành viên của Hội Hoàng GiaAnh và được nhận giải thưởng hằng năm của Vua nước Anh và ông còn được vua George III phong là nhà Thiênvăn của triều 1789 Herschel sử dụng chiếc kính thiên văn phản xạ với gương cầu và tiêu cự để quan sát cácngôi sao trong nhiều tinh vân khácNăm 1800 , ông dùng lăng kính để tán xạ ánh sáng từ Mặt Trời và khám phá ra tia hồng ngoại có bước sóngdài hơn ánh sáng, nằm ngoài vùng ánh sáng có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Ngày này, các nhà thiên vănhọc quan sát vũ trụ theo nhiều cách khác nhau, từ sóng vô tuyến đến tia gamma trên quang phổ điện hồng ngoạiNăm 1802, lập xong một danh mục sao với hơn 2500 tinh vân và các quần sao cũng phát hiện ra hai vệ tinh của Sao Thổ Ngoài sở thích thiên văn học, Herschel cũng thích âm nhạc vớikhoảng 24 bản giao hưởng do ông sáng tác nhưng ít được biết đến. . Ông được trao tặng huy chương Copley củaHội Hoàng Gia Luân Đôn3. Quang phổ học được ứng dụng lần đầu tiên đầu thế kỷ 19Kỹ thuật quang phổ sử dụng ánh sáng truyền qua một vật thể trung gian lên một bề mặt, nhằm tạo ra một dảimàu sắc khác nhau. Trong đó, các thành phần có bước sóng khác nhau sẽ tạo ra các vạch màu khác trình này giúp xác định được thành phần của các vật thể trong vũ trụ, thậm chí ở khoảng cách rất xaTrái ĐấtKỹ thuật quang phổ được phát minh vào đầu thế kỷ 19 bởi Joseph von Fraunhofer 6 tháng 3 năm 1787 - 7tháng 6 nam 1826 là một nhà vật lý quang học người Đức. Ông được biết đến nhờ công lao khám phá ra phổ hấpthụ của ánh sáng Mặt Trời, một khám phá đã tạo nền tảng cho việc chế tạo ra kính quang phổ và các kính viễn vọngtiêu sinh tại Straubing. Ông trở thành trẻ mồ côi khi mới 11 tuổi và trở thành người học việc cho một thợ làmkính khó tính tên là Philipp Anton Weichelsberger. Năm 1801, cửa hàng kính ông làm bị sụp và Fraunhofer bị lấptrong đống vụn. Fraunhofer sau đó được Maximilian IV Joseph, một hoàng thân vùng Bavaria, thực hiện ca phẫuthuật cứu sống. Sau đó vị hoàng thân này cung cấp cho Fraunhofer sách và bắt người làm thuê của ông ta đểFraunhofer thời gian học tám tháng học, Fraunhofer tới làm tại viện quang phổ ở Benediktbeuern, một thầy tu dòng Benedic đã truyềndạy cách làm kính cho ông, sau đó Fraunhofer khám phá ra cách chế tác ra các loại kính quang phổ tốt nhất thế giới,ông đã lập ra các phương thức để đo độ tán sắcNăm 1818, Fraunhofer trở thành giám đốc viện quang phổNhờ các dụng cụ quang phổ tốt mà ông đã phát triển, Bavaria Bayern đã vượt qua nước Anh để trở thành trungtâm của ngành công nghiệp quang 1822 ông giành được học vị tiến sĩ tại Đại học ErlangenNăm 1824, ông được trao huân chương danh dự, trở thành một quý tộc và một công dân danh dự của MünchenÔng qua đời năm 1826 ở tuổi 39 do nhiễm độc hơi hoá học từ kim loại nặng trong quá trình làm kính4. Lần đầu tiên đo khoảng cách bằng đơn vị năm ánh sáng 1838 Friedrich Wilhelm Bessel 22 tháng 7, 1784 – 17 tháng 3, 1846 sinh tại Đức là một nhà toán học và thiên văn họcBessel được coi là nhà một trong những nhà thiên văn học đầu tiên sử dụng phưng pháp đo thị sai để tính ra khoảngcách đến các ngôi saoNăm 14 tuổi, Bessel vào làm việc cho hãng xuất – nhập khẩu Kulenkamp và nhanh chóng trở thành kế toán củahãng. Do phải thường xuyên đi theo các tàu hàng nên Bessel đã quan tâm đặc biệt đến vấn đề định hướng tronghàng hải, từ đó ông trở thành một nhà thiên văn học chuyên đã được một nhà thiên văn học nổi tiếng người Đức lúc bấy giờ là Heinrich Wilhelm Olbers quan tâm đến saukhi ông hoàn thành việc hiệu chỉnh các thông số về quỹ đạo của sao chổi HalleyHai năm sau, Bessel đã rời khỏi hãng Kulenkamp, chuyển đến làm việc tại đài thiên văn Lilienthal Bremen, Đức. Tạiđây, ông đã cùng với James Bradly quan sát và hiệu chỉnh vị trí của hơn 3222 ngôi saoNăm 26 tuổi, Bessel được vua Frederick William III của nước Phổ bổ nhiệm làm giám đốc đài thiên văn KönigsbergObservatoryBessel được coi là nhà một trong những nhà thiên văn học đầu tiên sử dụng phưng pháp đo thị sai để tínhra khoảng cách đến các ngôi sao. Năm 1838, ông sử dụng phép đo thị sai để xác định khoảng cách từ ngôisao 61 Cygnus đến Trái Đất là 10,3 năm ánh sáng, không chênh lệch nhiều so với con số được đo bằngphương pháp hiện đại là 11,4Ông là người có nhiều đóng góp lớn cho ngành thiên văn học và đã lập bản đồ vị trí của hơn ngôi dù không học đại học, Bessel đã trở thành một trong những nhà thiên văn nổi tiếng nhất trong nửa đầu thế kỷXIX. Tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một tiểu hành tinh asteroid 1552 Bessel5. Bức ảnh thiên văn đầu tiên 1839 -1840Henry Draper – sinh ra tại bang Virginia, đông Hoa Kỳ, là một thầy thuốc và nhà thiên vănhọc người Mỹ. Ông nổi tiếng là người tiên phong trong việc chụp hình các thiên thể. Ông tốt nghiệp đại học New Yorkkhi mới chỉ 20 tuổi. Ban đầu, Draper làm việc tại bệnh viện Bellevue, sau đó ông đảm nhiệm chức vụ giáo sư, trưởngkhoa y tại đại học New 1867, Draper kết hôn với Anna Mary Palmer, một phụ nữ giàu có và giao thiệp dù chỉ là một nhà thiên văn nghiệp dư, Henry Draper là một trong những người đi tiên phong trong việc ứngdụng kỹ thuật chụp ảnh vào quan sát thiên văn .Ông là người đầu tiên chụp hình Mặt Trăng thông qua một kínhviễn vọng vào mùa đông năm cũng là người đầu tiên chụp được ảnh quan phổ vạch hấp thụ của các ngôi sao 1872. Năm 1874, ông dẫnđầu đoàn nghiên cứu tiến hành chụp ảnh quá trình Sao Kim đi ngang qua Mặt Trời. Ngày 30/09/1880, Draper làngười đầu tiên chụp ảnh thành công tinh vân Orion với chiếc kính khúc xạ 11 inch, phơi sáng trong thời gian 50 chụp đầu tiên của tinh vân Orion, do giáo sư Henry Draper thực hiện vào năm 1880. Những ngôi sao lớn, có vẻsáng hơn tinh vân nhiều, là do sự phơi sáng quá đã được trao tặng nhiều phần thưởng và được bầu làm thành viên của nhiều tổ chức khoa học có uy qua đời khi còn rất trẻ bởi bệnh viêm màng phổi. Sau khi ông mất, vợ ông đã sáng lập ra huy chương HenryDraper, trao tặng cho những cá nhân có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực vật lý thiên văn. Bà cũng là người tài trợcho đài thiên văn Harvard hoàn thành bản danh mục gồm hàng trăm nghìn ngôi sao Henry Draper Catalogue. Đâycũng là bản danh mục đầu tiên phân loại các ngôi sao dựa trên kiểu phổ một cách có hệ thốngTên ông được đặt cho một crater trên Mặt Doppler Khám phá ra hiện tượng dịch bước sóng của các nguồn phát chuyểnđộng1842Christian Andreas Doppler – là nhà toán học và vật lý học , nhà thiên văn học người Áo. Ôngsinh và lớn lên ở Salzburg, Áo. Cha ông là một thợ xây đá. Gia đình có nghề truyền thống này từ năm 1674. Côngviệc làm ăn của cha ông phát đạt nên gia đình có một ngôi nhà ở Quảng trường Hannibal nay đổi tên là Quảngtrường Makart ở kết thúc học trình ở Đại học Vienne năm 1829, Doppler được bổ nhiệm làm phụ tá các môn toán học cấp cao vàcơ học cho giáo sư A Burg. Trong thời gian 4 năm làm phụ tá này, Doppler đã xuất bản 4 bài khảo luận về toán tháng 3 năm 1835, ông nhận được lời mời tới giảng dạy ở "Trường Kỹ thuật cấp hai" tại Prahatháng 2 năm 1841 ông được bổ nhiệm chức giáo sư. dạy ở "Trường Bách khoa Praha" nay là Đại học Kỹ thuật Sécở Praha .Tại đây ông xuất bản hơn 50 bài về toán học, vật lý học và thiên văn năm sau, ở tuổi 39, Doppler xuất bản tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, "Über das farbige Licht derDoppelsterne und einiger anderer Gestirne des Himmels" On the coloured light of the binary stars and someother stars of the heavens. Có một ấn bản sao chép với bản dịch sang tiếng Anh của Alec Eden Trong tácphẩm này, Doppler đặt nguyên tắc của mình thành định đề sau này gọi là Hiệu ứng Doppler là tần số quansát được của một bước sóng phụ thuộc vào tốc độ tương đối của nguồn và người quan sát, .Cụ thể là nếunguồn chuyển động ra xa người quan sát thì bước sóng của nó sẽ dài thêm ra và ngược lạivà ông đã cốgắng sử dụng khái niệm này để giải thích màu sắc của các sao đôi. Hiệu ứng Doppler về âm thanh đãđược Buys Ballot xác minh năm từ trần ngày ở tuổi 49 tại Venezia Ý, lúc đó thuộc Đế quốc Áo vì bệnh phổi7 . Galle phát hiện ra hành tinh thứ 8 của Hệ Mặt Trời là Sao Hải Vương nhờ áp dụng cáckết quả tính toán về sự lệch quỹ đạo SaoThiên Vương của Leverrier 1846Johann Gottfried Galle 9 tháng 6, 1812 - 10 tháng 7, 1910 là nhà thiên văn học người làm việc tại đài thiên văn Berlin dưới sự chỉ đạo của Johann Franz Encke. Năm 1838, Galle đã phát hiện ravành đai C của Sao Thổ23/09/1846 ông được Le Verrier chỉ lên bầu trời vị trí của một hành tinh chưa được biết tới mà nhà khoa học ngườiPháp đã tính toán ra trong một thời gian dài và ngay tối hôm đó, cùng với học trò , Galle đã phát hiện ra thiên thểđúng như Le Verrier dự đoán Hai ngày sau, thiên thể đó được xác nhận là một hành tinh nằm bên ngoài Sao ThiênVương. Galle đã trở thành người đầu tiên quan sát được Sao Hải Vương NeptuneNăm 1851, Galle đảm nhiệm vai trò giám đốc đài thiên văn 1894, cùng với con trai là Andreas Galle, ông đã xuất bản danh mục bao gồm 414 sao chổiKhi ông mất tên ông được đặt cho một crater trên Mặt Trăng, một crater trên Sao Hỏa và một vành đai của Sao HảiVương8. Năm 1851 lần đầu tiên 1 thí nghiệm chứng minh sự tự quay của Trái Đấtdo Foucault thực hiệnJean Bernard Léon Foucault các sách vật lý tiếng Việt thường ghi là Phu-cô 18 tháng 9, 1819 - 11 tháng 2, 1868là nhà vật lý học title="Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại"> Thành tựu của Văn Hóa Trung Hoa thời kỳ Trung đại 66 2 11
Các con thú trên hoàng đạo theo thiên văn học Hy Lạp cổ đại, viện bảo tàng Louvre. Kế thừa những thành tựu của thiên văn học Lưỡng Hà, người Hy Lạp cổ đại đã có bước phát triển quan trọng trong lý thuyết và phương pháp tính toán để đưa thiên văn học tiến một bước dài. Những gì mà họ tạo ra sau này đã được người Ả Rập và châu Âu tiếp tục sử dụng. Vào buổi sơ khai, người Ai Cập cổ đại quan niệm vũ trụ được mặt đất chia thành hai phần, phần trên là bầu trời sáng láng còn phía dưới là địa ngục tối tăm. Ban ngày Thần Mặt trời cưỡi cỗ xe rực lửa chạy khắp bầu trời và ban đêm bơi trên một cái chén vàng theo đại dương bao quanh mặt đất. Sự kiện thiên văn[sửa] Vào thế kỷ 6 TCN, Thales khoảng 624 TCN – khoảng 546 TCN đã dự báo chính xác nhật thực xảy ra vào ngày 28 tháng 5 năm 585 TCN khi quan sát nhật thực lớn vào 18 tháng 5 năm 603 TCN, một tiến bộ quan trọng lúc đó. Ông chứng tỏ rằng các ngôi sao phát sáng nhờ ánh sáng của mình, trong khi Mặt Trăng được chiếu sáng nhờ ánh sáng Mặt Trời. Theo Thales, mặt đất là một chiếc ván phẳng bơi trên mặt nước. Học trò của ông - Anaximander khoảng 611 TCN – khoảng 546 TCN đã đưa ra một mô hình vũ trụ theo thuyết địa tâm đầu tiên trong lịch sử thiên văn học. Theo đó Trái Đất là trung tâm và bao quanh bởi ba vòng cầu lửa, vòng gần Trái Đất nhất có nhiều lỗ thủng nhỏ chính là những ngôi sao, vòng xa hơn có một lỗ thủng lớn - Mặt Trăng và vòng xa nhất có một lỗ thủng lớn nhất - Mặt Trời. Đó là một bước phát triển quan trọng bởi trước ông, những nghiên cứu thiên văn học chỉ dựa trên quan sát chứ không phải suy luận. Không những thế ông còn tìm cách giải thích nguồn gốc của vũ trụ cái không giới hạn Apeiron là khởi đầu của tồn tại; vũ trụ sinh ra, trưởng thành rồi chết đi và lại sinh ra theo vòng tuần hoàn. Nhà triết học Pythagoras khoảng 580 TCN – khoảng 500 TCN cũng cho rằng Trái Đất là một quả cầu nằm tại trung tâm vũ trụ và phát hiện ra rằng sao Hôm và sao Mai chỉ là một hành tinh. Sau đó Anaxagoras 500 TCN – 428 TCN đưa ra mô hình vũ trụ là một quả bóng hình cầu đang nở ra với Trái Đất là trung tâm. Ông cho rằng, Mặt Trời là một tảng đá nóng bỏng lớn hơn bán đảo Peloponnésos. Democritus khoảng 460 TCN – khoảng 370 TCN đưa ra ý niệm có vô số thế giới tồn tại trong vũ trụ vô cùng vô tận và được cấu thành bởi vô vàn các hạt nguyên tử. Nhà triết học Philolaus 470 TCN – mất? coi Trái Đất là một trong những ngôi sao và chuyển động vòng tròn quanh một tâm điểm gây ra ngày và đêm. Vũ trụ của ông quay xung quanh một "ngọn lửa thần thánh" và gồm có bầu trời, các hành tinh, sau chúng là Mặt Trời, dưới Mặt Trời là Mặt Trăng, dưới Mặt Trăng là Trái Đất và Đối Trái Đất Antichtone giả thuyết nằm ẩn mặt phía sau ngọn lửa thần thánh. Philolaus cho rằng, Trái Đất quay quanh trục của mình. Nhà triết học Plato s. khoảng 428 TCN- 423 TCN; mất khoảng 348 TCN- 347 TCN trong tác phẩm Triết học tự nhiên Timaeus của mình đã cho rằng vũ trụ là do Đấng Sáng Tạo tạo ra bởi một hỗn hợp gồm hai bản thể bản thể tinh thần không thể phân chia và bản thể vật chất có thể phân chia. Vũ trụ phân thành 7 vòng với khoảng cách không đều nhau có tâm là Trái Đất. Khoảng cách tương đối từ Trái Đất đến quỹ đạo của các thiên thể theo tỷ lệ gấp đôi hoặc gấp ba, tỷ lệ mà theo ông các vòm cầu của vũ trụ đạt được sự hài hòa. Đến thế kỷ 4 TCN, nền khoa học nói chung và thiên văn học nói riêng của Hy Lạp đã đạt đến trình độ chuyển từ suy luận chung sang nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống các hiện tượng tự nhiên. Eudoxus khoảng 408 TCN - khoảng 347 TCN, người cùng thời với Plato đã có những đóng góp tiêu biểu cho khuynh hướng này. Ngoài việc vẽ được hình chiếu của chí tuyến trời và vòng Cực Bắc lên bề mặt Trái Đất cũng như đưa ra tỷ lệ giữa khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng và Mặt Trời, ông đã xây dựng giả thuyết về chuyển động của các hành tinh, còn gọi là giả thuyết về các hình cầu đồng tâm. Đây là mô hình có tính chất hình học đầu tiên về chuyển động của các hành tinh. Lý thuyết của ông cho rằng chuyển động biểu kiến của các hành tinh là tổng của các chuyển động xoay tròn đồng mức. Chuyển động của mỗi hành tinh là một tổ hợp của một số vòm cầu lồng vào nhau, các cực của mỗi vòm được xếp liên tiếp chồng lên nhau. Để mô tả chuyển động của Mặt Trăng, Mặt Trời, cần 3 vòm cầu, cái thứ nhất mô tả chuyển động quay quanh trục của nó; cái thứ hai mô tả các tiết điểm giao điểm của hoàng đạo và đường đi của Mặt Trăng trên hoàng đới; cái thứ ba có trục hơi nghiêng so với các cực của vòm cầu thứ hai mô tả độ lệch góc của quỹ đạo so với mặt phẳng hoàng đạo. Các hành tinh có chuyển động biểu kiến phức tạp hơn thì cần tới 4 vòm cầu và hệ thống của ông có tổng cộng 27 vòm cầu. Sau đó Callippus khoảng 370 TCN - khoảng 300 TCN đưa thêm vào 6 vòm cầu nữa thành 33 và Aristotle tăng số lượng của chúng lên 55. Aristotle 384 TCN - 322 TCN cũng cho rằng chuyển động hướng tâm và ly tâm là chuyển động tự nhiên còn những chuyển động khác phải có lực tác động vào. Sở dĩ các thiên thể chuyển động được là do "sức đẩy nguyên thủy" có tính chất thần thánh, nằm ngoài không gian và thời gian. Lý thuyết về vũ trụ của ông có ảnh hưởng sâu sắc đến các học giả thời Trung Cổ và họ đã điều chỉnh nó cho phù hợp với giáo lý Ki - tô. Được hậu thuẫn bởi giới chức tôn giáo, mô hình của Aristotle đã tồn tại nhiều thế kỷ, và thật không may mắn, điều này đã kìm hãm sự phát triển của khoa học bởi lẽ rất ít người dám thách thức quyền lực của nhà thờ. Dùng phương pháp đo góc, Eratosthenes 276 TCN - 194 TCN đã tính toán được đường kính Trái Đất. Mặc dù độ chính xác của con số này là chủ đề tranh luận của các học giả nhưng chắc chắn rằng nó ở mức cao, thậm chí tuyệt vời. Mô hình vũ trụ của Ptolemy. Sau khi La Mã xâm chiếm Hy Lạp, các nhà thiên văn học người Hy Lạp vẫn tiếp tục hành trình khám phá của mình. Ngoài việc dùng phương pháp đo góc để tính toán khoảng cách tương đối từ Trái Đất đến Mặt Trăng và Mặt Trời, Aristarchus 310 TCN - khoảng 230 TCN còn là người đầu tiên trình bày một cách rõ ràng và có hệ thống về thuyết nhật tâm. Theo đó, Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, Trái Đất quay quanh trục của nó và các hành tinh quay quanh Mặt Trời. Hipparchus khoảng 190 TCN - khoảng 120 TCN cũng có những đóng góp quan trọng. Ngoài việc xác định hoàng vĩ và hoàng kinh kinh độ và vĩ độ theo hệ tọa độ hoàng đạo của 850 ngôi sao, ông đã đưa ra ý niệm về cấp sao biểu kiến. Ông cũng là người khám phá ra hiện tượng tuế sai trong chuyển động của các hành tinh, tính toán độ dài của một năm, khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trăng với độ chính xác cao. Sử dụng thành tựu của những người đi trước, Ptolemy khoảng 100 - khoảng 178 đã tiếp tục xây dựng, phát triển lý thuyết về chuyển động biểu kiến của hành tinh. Ông đã sáng chế ra những dụng cụ đo góc để quan sát các vì sao như thước xích cầu, thước ngắm tam giác... và bổ sung vào danh mục các vì sao của Hipparchus đưa tổng số lên đến 1022. Mô hình vũ trụ của ông lấy Trái Đất làm trung tâm, các thiên thể chuyển động quanh đó. Các hành tinh không quanh quanh Trái Đất mà chuyển động đều trên các vòng tròn phụ gọi là ngoại luân và tâm của các ngoại luân mới mới chuyển động đều quanh Trái Đất theo vòng tròn lớn gọi là bản luân. Mô hình của Ptolemy đã được chấp nhận rộng rãi cho đến tận thời Phục Hưng khi Nicolaus Copernicus khẳng định Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời. Ngoài các công trình nghiên cứu thiên văn được tập hợp thành bộ sách đồ sộ Almagest, ông còn để lại những chỉ dẫn về chiêm tinh học trong tác phẩm Tetrabiblos.
Nhà thiên văn, họa phẩm của Johannes Vermeer, hiện vật bảo tàng Louvre, Paris Thiên văn học là một trong những môn khoa học ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người. Những dấu vết khởi đầu của ngành thiên văn có từ thời tiền sử. Qua quan sát chuyển động biểu kiến của Mặt Trời, Mặt Trăng, con người đã tìm ra những thời điểm thay đổi của thời tiết. Vào cuối thời đại đồ đá thiên niên kỷ 4 - 3 TCN, ở những nền văn minh cổ đại, quan sát bầu trời là công việc rất quan trọng của giới tăng lữ. Trước khi con người học được cách định vị trên Trái Đất và sáng tạo ra môn địa lý học, họ đã quan sát bầu trời và sản sinh ra những mô hình đầu tiên của nó. Thời điểm thiên văn học trở thành một môn khoa học theo cách nhìn nhận ngày nay đã diễn ra vào thế kỉ 16 nhờ công sức của Nicolaus Copernicus, kế tiếp là Galileo Galilei, Johannes Kepler, Isaac Newton. Một trong những tác nhân quan trọng nhất đối với cuộc cách mạng thiên văn học của Nicolaus Copernicus là phát minh kính viễn vọng. Những bước tiến của thiên văn học hiện đại đã xảy ra vào nửa cuối thế kỷ 19 khi các phương pháp phổ học và chụp hình được sử dụng trong quan sát thiên văn. Những bước nhảy vọt của thiên văn học được ghi nhận vào những năm 40 của thế kỷ 20 nhờ các quan sát thiên văn vô tuyến và tiếp đó là sự kiện con người khắc phục được những cản trở của khí quyển Trái Đất khi quan sát toàn vẹn phổ của vũ trụ từ các vệ tinh nhân tạo. Thiên văn Ai cập[sửa] Khoảng năm trước Công Nguyên, tại thung lũng sông Nil, một trong những nền văn minh lâu đời nhất đã xuất hiện nền văn minh Ai cập cùng với ngành thiên văn học gắn chặt với con sông hùng vĩ này. Các vị tư tế nhanh chóng nhận thấy trước khi nước sông dâng cao luôn có hai sự kiện xảy ra ngày hạ chí và sao Thiên Lang mọc vào lúc bình minh sau 70 ngày vắng mặt. Lúc đó, người Ai Cập cũng đã có âm lịch với 12 tháng, mỗi tháng 29 đến 30 ngày và cứ sau hai đến ba năm, họ lại cộng thêm vào một tháng để luôn phù hợp với các mùa trong năm. Lịch Ai Cập cổ đại lấy ngày bắt đầu của năm là ngày đầu của tuần trăng non sau khi sao Thiên Lang mọc trở lại. Ngoài lịch có tính chất tôn giáo này, người Ai Cập còn có Lịch lược đồ, cũng có 12 tháng, mỗi tháng 30 ngày và cuối năm thêm năm ngày nữa. Bầu trời được chia thành 45 chòm sao và con người đã biết đến các hành tinh như Sao Mộc, sao Hoả, Sao Thổ, Sao Kim, sao Thuỷ. Quan niệm của người Ai Cập về vũ trụ gắn liền với đa thần giáo. Trung tâm của thế giới là thần Geb, vị thần tượng trưng cho Trái Đất, người chị đồng thời là vợ của Geb - thần Nut chính là bầu trời. Nut sinh ra thần Ra - thần Mặt Trời và các vì sao còn Ra sinh ra Thoth - thần Mặt Trăng. Do Nut cứ sáng ra lại nuốt hết các vì tinh tú rồi đến đêm mới thả ra nên thần Shu, cha của bà, đã nâng bầu trời lên khỏi mặt đất. Thần Ra ban ngày bơi trên sông Nil ở thượng giới, chiếu sáng mặt đất còn ban đêm lại du hành dưới sông Nil chốn âm phủ và chiến đấu với những thế lực đen tối để rồi sáng hôm sau lại xuất hiện phía chân trời. Về dụng cụ thiên văn, người Ai Cập đã sáng chế ra đồng hồ Mặt Trời, đó chính là những cột bia thờ thần Ra, nó cho phép xác định độ cao của Mặt Trời so với đường chân trời. Để đo thời gian về ban đêm, các vị tư tế theo dõi vị trí của những ngôi sao. Người Ai Cập cũng đã cống hiến cho nhân loại ý tưởng xác định một giờ bằng 1/24 độ dài của một ngày đêm, thống nhất cho mọi mùa trong năm. Thiên văn Lưỡng hà[sửa] Vùng Lưỡng Hà là nơi cư trú của người Sumer, Assyrie và Babylon. Các thành tựu thiên văn học của người Babylone "đã trở thành tài sản chung cho các nhà bác học Hy Lạp và đóng vai trò quan trọng trong lịch sử ngành khoa học này. Lý thuyết về Mặt Trăng của Hipparchus chẳng hạn, phần lớn là lấy cơ sở từ các dữ liệu của các nhà bác học Babylone, hệ thống các chòm sao thời cổ Hy Lạp có rất nhiều chòm lấy từ các chòm sao đã biết ở vùng Lưỡng Hà. Và ngày nay, chúng ta vẫn tiếp tục chia thiên cầu thành 360° như các nhà thiên văn cổ đại vùng Lưỡng Hà đã làm. Vào thời kỳ thành phố Babylone bị người Kassite xâm chiếm, bộ sách chiêm tinh Enuma Anu Enlil đã ra đời với gần lời tiên đoán. Thời kỳ Cổ Babylone, thiên văn học đã có những thành tựu quan trọng. Đầu thiên niên kỷ 2 TCN, người Babylone đã nhận biết được 5 hành tinh của Hệ Mặt Trời là Sao Kim, Sao Thuỷ, Sao Hoả, Sao Thổ và Sao Mộc cũng như đường đi của chúng. Họ cũng phân biệt 12 chòm sao trên hoàng đạo, nghiên cứu về sao chổi, sao băng, tính được nhật thực, nguyệt thực và đặt ra âm lịch. Tới cuối thiên niên kỷ 2 TCN, các vì sao được phân chia vào khoảng 70 chòm sao, trong đó có một số chòm trùng với các chòm sao ngày nay như Song Tử, Con Cua, Sư Tử, Bọ Cạp... Ngay từ đầu thiên niên ký thứ 3 TCN, người Sumer đã biết sao Hôm và sao Mai chỉ là một và đến cuối thiên niên kỷ đó, theo một văn bản ghi trên đất sét tìm được, họ đã có được danh sách các chòm sao cũng như việc phân biệt giữa hành tinh với định tinh. Trong thời kỳ của vương quốc Assyrie, bộ sách có niên đại vào khoảng năm 1100 TCN đã liệt kê danh mục các chòm sao, các sao, ngày tháng chúng mọc lên, 18 chòm sao nằm trên đường đi của Mặt Trăng tiền thân của các cung hoàng đạo. Ngoài ra nó còn ghi lại lịch Mặt Trời và bằng xác định thời gian ban ngày theo cách đo đội dài bóng cọc tiêu. Dưới triều đại các vị vua Assyrie cuối cùng, chiêm tinh học và thiên văn học được liệt vào những công việc quan trọng của vương quốc, một mạng lưới các đền thờ đồng thời là đài quan sát thiên văn hình thành, kết quả quan sát được báo cáo đều đặn cho quốc vương. Từ giữa thế kỷ 8 TCN, nhật thực, nguyệt thực được ghi lại trong danh sách đặc biệt và nhật ký quan sát thiên văn được lập ra. Ngoài thiên thực, những ngày trăng non, trăng tròn, vị trí của Mặt Trăng so với các vì sao, sự dịch chuyển của các hành tinh, sự xuất hiện của sao chổi, ngày phân, ngày chí... cũng được ghi chép cẩn thận. Sang thời kỳ Tân Babylone, với sự phát triển của toán học, chuyển động của Mặt Trăng và các hành tinh được tính toán với độ chính xác cao hơn. Đóng góp nổi bật của giai đoạn này là sự phát triển khái niệm hoàng đạo vòng tròn lớn của hoàng đới được chia thành 12 phần bằng nhau, mỗi phần tương ứng với một chòm sao và gọi là cung hoàng đạo. Đó cũng là thang chia độ để xác định vị trí của Mặt Trăng, Mặt Trời, các hành tinh. Cũng vào thời kỳ này, người Lưỡng Hà sử dụng lịch Mặt Trăng và Mặt Trời kết hợp, mỗi tháng có 29 đến 30 ngày và bắt đầu vào buổi tối khi lưỡi liềm của trăng non xuất hiện. Năm bắt đầu từ mùa xuân và gồm 12 hoặc 13 tháng Mặt Trăng. Các tháng phụ được cộng thêm vào sao cho ngày đầu tiên của năm trùng với kỳ lúa đại mạch chín, cứ một chu kỳ 19 năm, bảy tháng phụ lại được thêm vào. Người Babylone cũng tìm ra chu kỳ Saros - chu kỳ 18 năm của nguyệt thực để có thể dự báo nó và Seleucus thành Seleucia, người ủng hộ thuyết nhật tâm. Thiên văn Hy lạp La mã[sửa] Kế thừa những thành tựu của thiên văn học Lưỡng Hà, người Hy Lạp cổ đại đã có bước phát triển quan trọng trong lý thuyết và phương pháp tính toán để đưa thiên văn học tiến một bước dài. Những gì mà họ tạo ra sau này đã được người Ả Rập và châu Âu tiếp tục sử dụng. Vào buổi sơ khai, người Ai Cập cổ đại quan niệm vũ trụ được mặt đất chia thành hai phần, phần trên là bầu trời sáng láng còn phía dưới là địa ngục tối tăm. Ban ngày Thần Mặt trời cưỡi cỗ xe rực lửa chạy khắp bầu trời và ban đêm bơi trên một cái chén vàng theo đại dương bao quanh mặt đất. Sử dụng thành tựu của những người đi trước, Ptolemy khoảng 100 - khoảng 178 đã tiếp tục xây dựng, phát triển lý thuyết về chuyển động biểu kiến của hành tinh. Ông đã sáng chế ra những dụng cụ đo góc để quan sát các vì sao như thước xích cầu, thước ngắm tam giác... và bổ sung vào danh mục các vì sao của Hipparchus đưa tổng số lên đến 1022. Mô hình vũ trụ của ông lấy Trái Đất làm trung tâm, các thiên thể chuyển động quanh đó. Các hành tinh không quanh quanh Trái Đất mà chuyển động đều trên các vòng tròn phụ gọi là ngoại luân và tâm của các ngoại luân mới mới chuyển động đều quanh Trái Đất theo vòng tròn lớn gọi là bản luân. Mô hình của Ptolemy đã được chấp nhận rộng rãi cho đến tận thời Phục Hưng khi Nicolaus Copernicus khẳng định Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời. Ngoài các công trình nghiên cứu thiên văn được tập hợp thành bộ sách đồ sộ Almagest, ông còn để lại những chỉ dẫn về chiêm tinh học trong tác phẩm Tetrabiblos. Hipparchus khoảng 190 TCN - khoảng 120 TCN cũng có những đóng góp quan trọng. Ngoài việc xác định hoàng vĩ và hoàng kinh kinh độ và vĩ độ theo hệ tọa độ hoàng đạo của 850 ngôi sao, ông đã đưa ra ý niệm về cấp sao biểu kiến. Ông cũng là người khám phá ra hiện tượng tuế sai trong chuyển động của các hành tinh, tính toán độ dài của một năm, khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trăng với độ chính xác cao. Dùng phương pháp đo góc, Eratosthenes 276 TCN - 194 TCN đã tính toán được đường kính Trái Đất. Mặc dù độ chính xác của con số này là chủ đề tranh luận của các học giả nhưng chắc chắn rằng nó ở mức cao, thậm chí tuyệt vời. Mô hình vũ trụ của Ptolemy. Aristotle 384 TCN - 322 TCN cũng cho rằng chuyển động hướng tâm và ly tâm là chuyển động tự nhiên còn những chuyển động khác phải có lực tác động vào. Sở dĩ các thiên thể chuyển động được là do "sức đẩy nguyên thủy" có tính chất thần thánh, nằm ngoài không gian và thời gian. Lý thuyết về vũ trụ của ông có ảnh hưởng sâu sắc đến các học giả thời Trung Cổ và họ đã điều chỉnh nó cho phù hợp với giáo lý Ki - tô. Được hậu thuẫn bởi giới chức tôn giáo, mô hình của Aristotle đã tồn tại nhiều thế kỷ, và thật không may mắn, điều này đã kìm hãm sự phát triển của khoa học bởi lẽ rất ít người dám thách thức quyền lực của nhà thờ. Sau khi La Mã xâm chiếm Hy Lạp, các nhà thiên văn học người Hy Lạp vẫn tiếp tục hành trình khám phá của mình. Ngoài việc dùng phương pháp đo góc để tính toán khoảng cách tương đối từ Trái Đất đến Mặt Trăng và Mặt Trời, Aristarchus 310 TCN - khoảng 230 TCN còn là người đầu tiên trình bày một cách rõ ràng và có hệ thống về thuyết nhật tâm. Theo đó, Mặt Trăng quay quanh Trái Đất, Trái Đất quay quanh trục của nó và các hành tinh quay quanh Mặt Trời. Nhà triết học Plato s. khoảng 428 TCN- 423 TCN; mất khoảng 348 TCN- 347 TCN trong tác phẩm Triết học tự nhiên Timaeus của mình đã cho rằng vũ trụ là do Đấng Sáng Tạo tạo ra bởi một hỗn hợp gồm hai bản thể bản thể tinh thần không thể phân chia và bản thể vật chất có thể phân chia. Vũ trụ phân thành 7 vòng với khoảng cách không đều nhau có tâm là Trái Đất. Khoảng cách tương đối từ Trái Đất đến quỹ đạo của các thiên thể theo tỷ lệ gấp đôi hoặc gấp ba, tỷ lệ mà theo ông các vòm cầu của vũ trụ đạt được sự hài hòa. Nhà triết học Philolaus 470 TCN – mất? coi Trái Đất là một trong những ngôi sao và chuyển động vòng tròn quanh một tâm điểm gây ra ngày và đêm. Vũ trụ của ông quay xung quanh một "ngọn lửa thần thánh" và gồm có bầu trời, các hành tinh, sau chúng là Mặt Trời, dưới Mặt Trời là Mặt Trăng, dưới Mặt Trăng là Trái Đất và Đối Trái Đất Antichtone giả thuyết nằm ẩn mặt phía sau ngọn lửa thần thánh. Philolaus cho rằng, Trái Đất quay quanh trục của mình. Đến thế kỷ 4 TCN, nền khoa học nói chung và thiên văn học nói riêng của Hy Lạp đã đạt đến trình độ chuyển từ suy luận chung sang nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống các hiện tượng tự nhiên. Eudoxus khoảng 408 TCN - khoảng 347 TCN, người cùng thời với Plato đã có những đóng góp tiêu biểu cho khuynh hướng này. Ngoài việc vẽ được hình chiếu của chí tuyến trời và vòng Cực Bắc lên bề mặt Trái Đất cũng như đưa ra tỷ lệ giữa khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trăng và Mặt Trời, ông đã xây dựng giả thuyết về chuyển động của các hành tinh, còn gọi là giả thuyết về các hình cầu đồng tâm. Đây là mô hình có tính chất hình học đầu tiên về chuyển động của các hành tinh. Lý thuyết của ông cho rằng chuyển động biểu kiến của các hành tinh là tổng của các chuyển động xoay tròn đồng mức. Chuyển động của mỗi hành tinh là một tổ hợp của một số vòm cầu lồng vào nhau, các cực của mỗi vòm được xếp liên tiếp chồng lên nhau. Để mô tả chuyển động của Mặt Trăng, Mặt Trời, cần 3 vòm cầu, cái thứ nhất mô tả chuyển động quay quanh trục của nó; cái thứ hai mô tả các tiết điểm giao điểm của hoàng đạo và đường đi của Mặt Trăng trên hoàng đới; cái thứ ba có trục hơi nghiêng so với các cực của vòm cầu thứ hai mô tả độ lệch góc của quỹ đạo so với mặt phẳng hoàng đạo. Các hành tinh có chuyển động biểu kiến phức tạp hơn thì cần tới 4 vòm cầu và hệ thống của ông có tổng cộng 27 vòm cầu. Sau đó Callippus khoảng 370 TCN - khoảng 300 TCN đưa thêm vào 6 vòm cầu nữa thành 33 và Aristotle tăng số lượng của chúng lên 55. Nhà triết học Pythagoras khoảng 580 TCN – khoảng 500 TCN cũng cho rằng Trái Đất là một quả cầu nằm tại trung tâm vũ trụ và phát hiện ra rằng sao Hôm và sao Mai chỉ là một hành tinh. Sau đó Anaxagoras 500 TCN – 428 TCN đưa ra mô hình vũ trụ là một quả bóng hình cầu đang nở ra với Trái Đất là trung tâm. Ông cho rằng, Mặt Trời là một tảng đá nóng bỏng lớn hơn bán đảo Peloponnésos. Democritus khoảng 460 TCN – khoảng 370 TCN đưa ra ý niệm có vô số thế giới tồn tại trong vũ trụ vô cùng vô tận và được cấu thành bởi vô vàn các hạt nguyên tử. Vào thế kỷ 6 TCN, Thales khoảng 624 TCN – khoảng 546 TCN đã dự báo chính xác nhật thực xảy ra vào ngày 28 tháng 5 năm 585 TCN khi quan sát nhật thực lớn vào 18 tháng 5 năm 603 TCN, một tiến bộ quan trọng lúc đó. Ông chứng tỏ rằng các ngôi sao phát sáng nhờ ánh sáng của mình, trong khi Mặt Trăng được chiếu sáng nhờ ánh sáng Mặt Trời. Theo Thales, mặt đất là một chiếc ván phẳng bơi trên mặt nước. Học trò của ông - Anaximander khoảng 611 TCN – khoảng 546 TCN đã đưa ra một mô hình vũ trụ theo thuyết địa tâm đầu tiên trong lịch sử thiên văn học. Theo đó Trái Đất là trung tâm và bao quanh bởi ba vòng cầu lửa, vòng gần Trái Đất nhất có nhiều lỗ thủng nhỏ chính là những ngôi sao, vòng xa hơn có một lỗ thủng lớn - Mặt Trăng và vòng xa nhất có một lỗ thủng lớn nhất - Mặt Trời. Đó là một bước phát triển quan trọng bởi trước ông, những nghiên cứu thiên văn học chỉ dựa trên quan sát chứ không phải suy luận. Không những thế ông còn tìm cách giải thích nguồn gốc của vũ trụ cái không giới hạn Apeiron là khởi đầu của tồn tại; vũ trụ sinh ra, trưởng thành rồi chết đi và lại sinh ra theo vòng tuần hoàn. Thiên văn Trung quốc[sửa] Bản đồ sao Đôn Hoàng, thời nhà Đường, Trung Quốc. Quan niệm về vũ trụ của người Trung Quốc cổ đại chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo. Vũ trụ buổi hồng hoang ở trạng thái mông lung, mờ mịt gọi là "thái cực" sau đó sinh ra "lưỡng nghi" âm và dương. "Lưỡng nghi" vừa tương khắc vừa kết hợp với nhau tạo thành năm khí chất chủ yếu ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Từ quan niệm "thiên địa hai tầng", tầng trên là trời - thế giới vô hình, tầng dưới là đất - thế giới hữu hình, đến thế kỷ 5, hình thành ba quan niệm về cấu trúc vũ trụ. Thuyết "cái thiên" hình dung bầu trời như một cái nắp hình bán cầu trùm lên mặt đất hình vuông. Thuyết "hồn thiên" thiên cầu mênh mông của Trương Hành 78 - 139 thì cho rằng vòm trời có khí ở trong và bao bọc Trái Đất, chân trời có nước còn Trái Đất nổi trên nước, trời có chín tầng khí với vận tốc và áp lực khác nhau, các vì sao được "cương phong" gió cứng nâng lên. Thuyết "tuyên dạ" đêm tối lan tràn, không trung vô tận lại coi bầu trời trống rỗng và vô cùng, vô cực; bảy tinh tú Mặt Trời, Mặt Trăng cùng năm hành tinh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ chuyển động tự do. Các sự kiện thiên văn được ghi chép ở Trung Quốc từ rất sớm và khá cụ thể. Các hiện tượng nhật thực, nguyệt thực, sao mới xuất hiện đã được chép lại từ khoảng năm trước Công Nguyên vào đời nhà Thương. Cho đến nay, ghi chép sớm nhất về vết đen Mặt Trời là sách Ngọc Hải, được ghi nhận không lâu sau năm 165 TCN. Hán Thư cũng ghi lại hiện tượng này khi nó xuất hiện ngày 10 tháng 5 năm 28 TCN. Thậm chí, dựa vào những lời ghi trong Kinh Dịch, có tài liệu còn cho rằng người Trung Quốc đã quan sát được vết đen Mặt Trời từ năm 800 TCN. Ở châu Âu, mãi tới đầu thế kỷ 9 mới có ghi chép về vết đen Mặt Trời. Ghi chép sớm nhất về sao chổi Halley nhìn thấy năm 613 TCN cũng được ghi trong Kinh Xuân Thu. Người Trung Quốc cũng ghi lại tỉ mỉ các hiện tượng xuất hiện sao mới, sao siêu mới mà họ gọi là "sao khách", sao băng...Hậu Hán Sử nhắc đến sao khách nhìn thấy ngày 7 tháng 12 năm 185. Vào thế kỷ 11 TCN, người Trung Quốc chia bầu trời sao vào hệ thống "tam viên nhị thập bát tú" với 28 chòm sao dựa theo 28 vì sao ở gần hoàng đạo và ba nhóm sao Tử Vi, Thái Vi, Thiên Thị tam viên ở xung quanh chòm sao Bắc Đẩu gồm 7 sao hình cái gàu sòng thuộc chòm Gấu Lớn theo cách chia hiện nay và thiên cực bắc. Danh mục sao cổ nhất của họ do Thạch Thân đời Chiến Quốc soạn có 122 chòm sao với 809 ngôi sao. Trương Hành thời Đông Hán đã sáng chế ra dụng cụ định vị sao gọi là hỗn thiên nghi và thống kê khoảng sao nhìn thấy được ở Trung Quốc, chia thành 124 chòm với 320 sao được đặt tên. Đến thời Tam Quốc, Trần Trác đã lập bản đồ và danh mục sao gồm 283 chòm tinh quan, sao. Kết quả quan sát quy mô lớn của Đài Quan Tượng xây dựng năm 1442 ở Bắc Kinh đã thiết lập nên hai danh mục sao đồ sộ là "Nghi tượng khảo thành" liệt kê vị trí của ngôi sao và "Nghi tượng khảo thành tục biên" với vị trí của ngôi sao. Hiện tượng tuế sai cũng được Ngu Hỷ phát hiện vào thế kỷ 4 và ghi lại trong sách "An thiên luận". Người Trung Quốc cũng có nhiều phát minh về dụng cụ thiên văn như cọc tiêu Mặt Trời, la bàn, đồng hồ mặt trời, đồng hồ nước... Khoảng năm 1100 TCN, Chu Công đã quan sát và đo bóng Mặt Trời lúc giữa trưa để xác định độ nghiêng của hoàng đạo so với xích đạo. Tuy nhiên, những thành tựu quan trọng nhất của thiên văn học Trung Quốc thể hiện ở lĩnh vực soạn lịch. Theo truyền thuyết và dã sử thì người Trung Quốc đã có lịch cách đây từ đến năm. Từ khoảng 600 năm trước Công Nguyên, họ đã có lịch âm dương kết hợp để phục vụ sản xuất nông nghiệp nên còn gọi là nông lịch. Cùng với Ai Cập, Trung Quốc là nơi sử dụng âm dương lịch sớm nhất. Tháng âm lịch tuần trăng bắt đầu từ ngày trăng non và có 29,5 ngày và cứ hai năm lại thêm một tháng nhuận cho phù hợp với năm dương lịch 365,25 ngày. Chu kỳ 19 năm một chương có bảy tháng nhuận ở các năm thứ 3,6, 8 hoặc 9, 11, 14, 17 và 19. Những ngày khí được đưa vào để thuận lợi cho thời vụ nông nghiệp. Cùng với tiến bộ về thiên văn học, toán học, lịch Trung Quốc thường xuyên được cải tiến với những nhà soạn lịch nổi tiếng Lưu Hồng, Hạ Thửa Thiên, Tổ Xung Chi, Lưu Chước, Quách Thủ Kính... Vào triều đại nhà Tần, Trung Quốc cũng đã có dương lịch với tháng tiết khí trung bình dài 30,44 ngày. Lịch sử dụng phổ biến trong dân gian là lịch can chi, dùng 10 can Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý và 12 chi Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, 60 năm thì tên gọi của một năm gồm can và chi lặp lại, chu kỳ đó gọi là 1 hội. Việt Nam và một số nước Đông Á, Đông Nam Á hiện vẫn đang dùng loại lịch sử dụng hệ đếm Can Chi ra đời cách đây khoảng năm này. Thiên văn Ấn độ[sửa] Công trình thiên văn học Jantar Mantar, thế kỷ 18, Ấn Độ. Trong bộ Kinh Vệ Đà ra đời cách đây trên năm, người Ấn Độ quan niệm rằng khởi thuỷ của vũ trụ là trạng thái hỗn độn, rồi nước được sinh ra đầu tiên, tiếp đến là lửa. Hơi nóng chứa đựng sức mạnh vô biên của lửa sinh ra "quả trứng trời đất", nửa trên là bầu trời, nửa dưới là mặt đất còn ở giữa là khoảng không phân cách. Bộ kinh này cũng cho rằng hoàng đạo là con đường của thần Surya thần Mặt Trời và người Ấn Độ cổ xưa chia hoàng đạo ra làm 28 chòm sao, đó là những "trạm nghỉ của Mặt Trăng" Mặt Trăng đi trọn một vòng hoàng đạo hết 27,3 ngày đêm. Toán học của Ấn Độ có những thành tựu rực rỡ và nhiều nhà toán học đồng thời cũng là nhà thiên văn học. Aryabhatta I 476-550 đã khẳng định rằng Trái Đất tự quay quanh trục của nó và chuyển động xung quanh Mặt Trời, đồng thời xác định độ dài của một năm dương lịch là 365 ngày 6 giờ 12 phút và 30 giây, một giá trị rất sát với tính toán hiện nay cũng như tính toán chu vi Trái Đất là dặm Anh số liệu hiện nay là dặm.Varahamihira 505 - 587, một nhà thiên văn Ấn Độ khác đã tổng kết nhiều thành tựu kiến thức của Hy Lạp và La Mã vào bộ sách Pancha-Siddhantika với năm luận thuyết của thiên văn 598 - 670 có những nghiên cứu về hiện tượng thiên thực, vị trí của các hành tinh trong tác phẩm Brahmasphutasiddhanta.
thành tựu của thiên văn học